Thông tin chung. Tên đăng ký KD. CôNG TY Cổ PHầN XUấT NHậP KHẩU DượC LIệU DươNG THư. Mã số thuế. 0101636779. Địa chỉ. Số nhà. Lô số CN 02-10 Cụm công nghiệp Ninh Hiệp. Phường / xã.
Mục lục bài viết. 1 Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu do Tổng cục Hải quan ban hành theo Công văn 5365/TCHQ-TXNK năm 2020 . 1.1 Căn cứ điểm 1 khoản 2 Điều 8 Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 của Quốc hội quy định; 1.2 Căn cứ quy định nêu trên; 1.3 Các bài viết liên quan:; 1.4 Mọi chi tiết xin liên hệ:
Công Ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Dược Liệu Quốc Tế Tâm Phát hiện đang kinh doanh các ngành nghề sau: Mã Ngành A0128. Trồng cây gia vị, cây dược liệu, cây hương liệu lâu năm. (Ngành chính) C1030. Chế biến và bảo quản rau quả. C1079. Sản xuất thực phẩm khác chưa được phân vào đâu. G4690. Bán buôn tổng hợp. G4722.
Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất và xuất khẩu dược liệu Việt Nam cần phải chú ý tới tất cả các khâu chuẩn bị dược liệu, từ quy hoạch vùng trồng, chăm sóc và thu hoạch dược liệu cho tới chế biến thô và bảo quản sau thu hoạch. Tìm hiểu thêm về dược liệu Việt Nam tại Chợ Dược Liệu Việt Nam
Mục tiêu đến năm 2020 toàn tỉnh sẽ phát triển dược liệu thành ngành sản xuất hàng hóa, trên cơ sở ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới trang thiết bị trong nghiên cứu chọn tạo giống, trồng trọt, chế biến, chiết xuất, chuyển giao công nghệ nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường.
HzFQZs. Theo phóng viên TTXVN tại Tokyo, trong những năm gần đây, xuất khẩu dược liệu của Việt Nam sang Nhật Bản đã tăng khá mạnh. Theo thống kê của Hải quan Nhật Bản, năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dược liệu của Việt Nam sang Nhật Bản lên tới 8,6 triệu USD. Tuy nhiên, Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản cho biết tiềm năng cho dược liệu Việt Nam ở Nhật Bản - nước tiêu thụ dược phẩm lớn thứ hai thế giới - vẫn còn rất lớn, nhất là khi thời gian gần đây, nhiều công ty dược phẩm của Nhật Bản đã bày tỏ mong muốn nhập khẩu dược liệu của Việt Nam. Theo Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, cho tới thời điểm này, Nhật Bản đã nhập khẩu khá nhiều loại dược liệu của Việt Nam. Các sản phẩm này bao gồm các loại cây và bộ phận của cây dùng làm dược liệu như cây gai dầu; các loại gia vị như tỏi đen, hạt tiêu đen, hồi, quế, gừng, nghệ; các loại hạt như hạt vừng và hạt quả hạch; các sản phẩm từ động vật giáp xác, động vật chết như mai mực, vỏ hàu, vỏ hà, gạc hươu, chất keo chế từ da trâu bò. Trong số này, những dược liệu và gia vị của Việt Nam có tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản gồm vỏ động vật giáp xác chiếm 14,9%, hạt tiêu đen chiếm 9,3% và hạt hoa hồi 4,1%. Tuy nhiên, so với một số nước khác, dược liệu Việt Nam có thị phần khá khiêm tốn tại thị trường Nhật Bản khi mới chiếm 1,1% trên tổng kim ngạch nhập khẩu dược liệu của nước này. Vì vậy, cơ hội cho các nhà sản xuất và xuất khẩu dược liệu của Việt Nam ở thị trường Đông Bắc Á này là rất lớn. Trao đổi với phóng viên TTXVN, ông Tạ Đức Minh, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Nhật Bản, nêu rõ “Việt Nam có nguồn cung dược liệu khá dồi dào, với khoảng hơn loài thực vật có công dụng làm thuốc. Tuy nhiên, hiện nay, xuất khẩu dược liệu của Việt Nam sang Nhật Bản nói riêng và thế giới nói chung chưa đáp ứng được tiềm năng và triển vọng so với nguồn cung.” Điều đáng mừng là một số công ty dược phẩm Nhật Bản đã tỏ ý quan tâm tới nguồn dược liệu của Việt Nam. Tham tán Tạ Đức Minh chia sẻ “Hiện nay, có một số công ty dược phẩm Nhật Bản đang quan tâm tới dược liệu của Việt Nam. Họ đánh giá cao các loại dược liệu Việt Nam vì chúng vẫn còn nguyên bản, chưa bị lai tạo và được trồng tự nhiên”. Cùng chung quan điểm đó, ông Nguyễn Văn Giáp, Giám đốc Công ty Cổ phần Hasu No Hana – nhà phân phối sản phẩm độc quyền cho nhiều công ty dược phẩm Nhật Bản như Công ty Dược phẩm JPS và Công ty Công nghiệp Dược phẩm Nikko tại thị trường Việt Nam, nói “Trong quá trình nhập khẩu thuốc đông y từ Nhật Bản về Việt Nam, tôi nhận thấy nhu cầu nhập dược liệu thô từ thị trường Nhật Bản rất lớn. Trong khi đó, nguồn dược liệu thô của Việt Nam rất phong phú nhưng lại hạn chế về đầu ra. Vì thế, trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu dược liệu thô Việt Nam sang thị trường Nhật Bản”. Mặc dù vậy, tại thị trường Nhật Bản, dược liệu của Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn từ nhiều đối thủ, nhất là Trung Quốc. Tham tán Tạ Đức Minh cho biết “Nhìn chung, Trung Quốc là quốc gia chiếm thị phần rất lớn ở hầu hết các sản phẩm dược liệu mà Việt Nam đang xuất khẩu sang Nhật Bản. Cá biệt có một số dược liệu mà Trung Quốc chiếm thị phần áp đảo như tỏi 91,3%; các loại cây dùng làm dược liệu 80,4%; gừng 74%; hạt hoa hồi 66,4%”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa dược liệu Việt Nam không có cơ hội tại thị trường này. Ông Makoto Tamura, Giám đốc Nhà máy sản xuất Tochigi của Công ty Dược phẩm JPS, cho biết “Công ty chúng tôi dự định mở rộng ra các dự án quốc tế. Vì thế, mặc dù trong giai đoạn hiện tại, chúng tôi không nhập khẩu nguyên liệu thuốc thô từ Việt Nam mà chủ yếu nhập khẩu từ Trung Quốc, nhưng thuốc là nguyên liệu thiên nhiên nên chúng tôi cũng dự định mở rộng nhập khẩu từ các nước khác, trong đó có Việt Nam”. Bên cạnh đó, Nhật Bản vẫn nổi tiếng vì có các quy định khá nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh thực phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm được sử dụng làm thuốc chữa bệnh. Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất và xuất khẩu dược liệu Việt Nam cần phải chú ý tới tất cả các khâu, từ quy hoạch vùng trồng, chăm sóc và thu hoạch dược liệu cho tới chế biến thô và bảo quản sau thu hoạch. Ngoài ra, một khó khăn khác là ngành sản xuất dược liệu ở Việt Nam nói chung vẫn còn nhỏ lẻ và phân tán. Đây là lý do vì sao trong Chương trình phát triển công nghiệp dược, dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, ban hành theo Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ lại đặt ra mục tiêu xây dựng 8 vùng khai thác bền vững dược liệu tự nhiên và từ 2-5 vùng trồng sản xuất dược liệu quy mô lớn, và phát triển dược liệu và các sản phẩm từ nguồn dược liệu trong nước thành lĩnh vực sản xuất hàng hóa. Trong bối cảnh đó, để khai thác tối đa cơ hội ở thị trường Nhật Bản, ông Minh cho rằng “Việt Nam cần phát triển các chuỗi sản xuất gắn với chế biến thay vì chỉ chế biến thô có hiệu quả thấp, đặc biệt là cần thu hút các doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước rót vốn đầu tư, khuyến khích các hình thức M&A nhằm xây dựng các trung tâm sản xuất, chế biến dược liệu ở quy mô lớn”. Đối với các nhà sản xuất và xuất khẩu dược liệu Việt Nam, ông Minh lưu ý họ cần “trồng các sản phẩm dược liệu mà thị trường Nhật Bản có nhu cầu, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và điều kiện sản xuất tại Việt Nam; quy hoạch vùng trồng ổn định, lâu dài và có quy mô lớn, tránh thu gom từ các vườn trồng nhỏ lẻ, phân tán dẫn đến chất lượng không đồng đều”. Bên cạnh đó, theo ông Minh, các nhà sản xuất và xuất khẩu cần đảm bảo các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, không có côn trùng gây bệnh, sản phẩm không được phép tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, các chất phụ gia mà Nhật Bản không cho phép. Họ cũng cần xây dựng chuỗi giá trị sản phẩm gắn với sản xuất thay vì chế biến thô, hiệu quả thấp, đồng thời tăng cường hợp tác với các đối tác Nhật Bản để sản xuất các sản phẩm mà thị trường Nhật Bản cần. Ngoài ra, giới chuyên gia cũng khuyến cáo các công ty sản xuất và xuất khẩu dược liệu cần lưu ý tới vấn đề truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Ông Tamura nói “Chúng tôi luôn tâm niệm rằng nguyên liệu thuốc là vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất thuốc... Vì vậy, chúng tôi rất coi trọng việc truy xuất nguồn gốc và nắm rõ thực tế sản xuất của các hộ nông dân trồng dược liệu"./. Nguồn BNews
Thống kê hiện nay cho thấy, Việt Nam đang đứng thứ 16 trong số 22 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển dựa theo tiêu chí tổng giá trị tiêu thụ thuốc hàng năm 4,8 tỷ USD. Tuy nhiên, giá trị sản xuất trong nước chỉ chiếm 2,18% so với tổng doanh thu công nghiệp sản xuất quốc gia năm 2014. Thị phần ngành công nghiệp dược tăng trưởng khoảng 24%, tuy nhiên doanh số thu được gần như thấp nhất khu vực với 0,8 tỷ USD/năm, trong khi Trung Quốc là 18,8 tỷ USD, Ấn Độ 7,6 tỷ USD, Philippines là 2,3 tỷ USD. Nhập khẩu 80-90% nguyên liệu Xếp hạng của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO, cho thấy, công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ dừng ở mức độ 3 theo thang phân loại 5 mức phát triển. Điều đó cho thấy công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập khẩu. Phần sản xuất trong nước chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ do phải nhập khẩu phần lớn nguyên liệu làm thuốc. Do vậy, quy mô canh tác vùng cây dược liệu mới chỉ khoảng ha, đáp ứng gần 30% nhu cầu sản xuất trong nước. Theo số liệu của Bộ Công Thương, ngành công nghiệp dược liệu vẫn còn rất nhỏ bé, nghèo nàn về chủng loại sản phẩm, dẫn tới trên 90% sản phẩm phải nhập khẩu, tập trung chủ yếu trong khâu bào chế, gia công thuốc trên cơ sở nguyên liệu nhập. Trong số 170 cơ sở sản xuất dược phẩm, chỉ có 7 cơ sở sản xuất nguyên liệu hóa dược với 2/7 cơ sở đạt GMP – tiêu chuẩn thực phẩm sản xuất tốt. Nguyên liệu để sản xuất hóa dược mới chỉ có một số khoáng sản vô cơ như các quặng khoáng, axit, kiềm, muối vô cơ, dược liệu ở quy mô manh mún các hóa chất cơ bản trung gian nói chung đều phải nhập khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong ngành phần lớn có quy mô nhỏ, phân tán, thiếu các điều kiện về xử lý chất thải, nguồn vốn hạn chế nên công tác đầu tư cho công nghệ xử lý và các biện pháp bảo vệ môi trường chưa được quan tâm. Thừa nhận thực tế này, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho rằng ngành dược phẩm ở Việt Nam đang tồn tại nghịch lý là đất nước nông nghiệp phát triển với nhiều điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau, nguồn nguyên liệu dược liệu phong phú, dược liệu từ thiên nhiên rất đa dạng, bao gồm động vật, thực vật, khoáng sản. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải nhập nguyên liệu tới 80% dược liệu. Cùng với đó, các sản phẩm thuốc đặc trị để điều trị tiểu đường và kháng sinh còn rất hạn chế, đặc biệt, thuốc chống ung thư nước ta phải nhập khẩu hoàn toàn các loại hóa chất điều trị từ nước ngoài với giá rất đắt, trong khi chúng ta có nhiều loại cây chứa các hoạt chất hoặc các tiền chất chống ung thư như cây thông đỏ, cây dừa cạn… Ngành công nghiệp dược chưa khai thác được lợi thế dược liệu quý hiếm Quy hoạch manh mún, nhỏ lẻ Ngoài ra, theo Bộ trưởng Bộ Y tế, tỷ lệ sử dụng thuốc nội thời gian qua có xu hướng tăng nhưng chỉ tăng ở tuyến xã, huyện, còn ở tuyến trung ương rất khiêm tốn, chỉ khoảng 11%. Việc nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm mới trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, chủ yếu là theo thị trường nên có sự trùng lắp. Các doanh nghiệp trong nước sản xuất chủ yếu vẫn trên dây chuyền đơn giản. Những năm 1980, Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu nhiều tinh dầu, dược liệu nhưng đến nay, 80% nguyên liệu bào chế dược trong nước phải đi nhập khẩu. Nguyên nhân là do quy hoạch ngành chưa đủ mạnh dẫn đến sự phát triển theo hướng “mạnh ai nấy làm”. Nghịch lý này cũng được Ts. Đậu Xuân Cảnh, Giám đốc Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam nêu lên. Theo Ts Cảnh, Việt Nam thuộc vùng khí hậu có nhiều tiềm năng để phát triển dược liệu, có rất nhiều giống dược liệu tốt mang tính đặc thù. Tuy nhiên, phần lớn dược liệu thô hiện tại chưa được khai thác để phục vụ ngành dược trong nước mà chuyển đi xuất khẩu, rồi sau đó chính nguyên liệu bào chế dược lại được nhập trở lại. Đồng quan điểm với Bộ trưởng Tiến, ông Cảnh cho rằng nhiều loại dược liệu trong nước có nhiều tác dụng và hoàn toàn có thể tận dụng để bảo chế dược, như cây quế chẳng hạn, nhưng chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng. “Trung Quốc hiện tại đang nhập khẩu rất nhiều dược liệu thô từ Việt Nam, nếu không có giải pháp cụ thể, chúng ta sẽ đánh mất cơ hội phát triển một trong những ngành vốn là thế mạnh”, ông Cảnh cảnh báo. Dưới góc độ DN, bà Đào Thuý Hà, Giám đốc Marketing của công ty CP Traphaco, cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, người tiêu dùng Việt Nam có nhiều lựa chọn khác nhau, nên nghiêng về lựa chọn sản phẩm tốt, giá cả hợp lý, minh bạch thông tin. Đấy chính là thách thức của DN. Tuy nhiên hiện nay, một trong những nguyên nhân khiến ngành công nghiệp dược phẩm chưa phát triển như mọng đợi là do cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ công nghiệp sản xuất hóa dược và phục vụ nghiên cứu triển khai, ứng dụng trong sản xuất hóa dược còn lạc hậu và không đồng bộ… Đặc biệt, việc phối hợp của 4 nhà nhà nước, nhà doanh nghiệp, nhà nông và nhà khoa học còn rất hạn chế, chưa liên kết thúc đẩy ngành công nghiệp dược phẩm phát triển. Nếu có sự hợp tác nghiên cứu và đầu tư đúng mức sẽ mở ra triển vọng sản xuất các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Song để làm được việc này, trước tiên cần chú trọng đầu tư phát triển vùng nuôi, trồng dược liệu. Đầu tư có trọng điểm các cơ sở sản xuất hóa chất và nguyên liệu làm thuốc. Ưu tiên đầu tư sản xuất thuốc thiết yếu, thuốc có thế mạnh xuất khẩu, thuốc từ dược liệu và thuốc gốc generic thay thế thuốc nhập khẩu. Thy Lê
TTO - Đa số nhà máy dược phẩm ở đều sản xuất các mặt hàng generic thông thường mang tính trùng lắp; nhiều nhà máy sản xuất cùng một hoạt chất và nguyên liệu chủ yếu nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về dược liệu, nền y học cổ truyền, sản xuất được vắc xin và phát triển hóa dược nhưng tiềm năng này chưa được khai thác xứng đáng - Ảnh DUYÊN PHANĐây là thực trạng ngành công nghiệp dược của vừa được Sở Y tế đề cập trong công văn gửi các sở, ngành nhằm góp ý cho dự thảo "đề án phát triển công nghiệp dược trên địa bàn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045".Thống kê của Sở Y tế cho thấy hiện toàn thành phố có 31 nhà máy dược phẩm đạt chuẩn GMP thực hành sản xuất thuốc tốt của WHO, chủ yếu sản xuất thuốc theo công thức hết thời hạn bảo hộ bản quyền cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Thuận lợi của còn là nơi tập trung các trường đại học đào tạo nguồn nhân lực dược hàng đầu, có các khu công nghệ cao, nhà máy lớn. Ngoài ra, về thị trường tiêu thụ khá dồi dào, đặc biệt thuốc chuyên khoa đặc trị khi có 133 bệnh viện, doanh nghiệp buôn bán và nhà thuốc. Tuy vậy, theo đánh giá, đa số nhà máy dược phẩm ở đều sản xuất các mặt hàng generic thuốc phiên bản, thông thường mang tính trùng lắp; nhiều nhà máy sản xuất cùng một hoạt chất và nguyên liệu chủ yếu nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc. Trước nhu cầu ngày càng lớn so với thực tế còn khiêm tốn cả về số lượng, chất lượng, Sở Y tế đã xây dựng lộ trình thực hiện xây dựng khu công nghiệp dược tại với 3 giai đoạn từ năm 2022 - 2045. Trong đó, từ năm 2022 - 2025 sẽ định hướng xây dựng khu công nghiệp dược bằng việc xây dựng, ban hành cơ chế chính sách về quỹ đất, thuế, nguồn tài chính cũng như kêu gọi đầu tư. Song song đó là xác định các loại hình sản phẩm bao gồm dược phẩm công nghệ cao và trang thiết bị y tế, qua đó đưa ra các tiêu chí cụ thể đối với sản phẩm được sản xuất trong khu công nghệ cao. Từ năm 2025 - 2030, sẽ triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp dược với quy mô khoảng 300ha, từng bước đưa vào hoạt động thực tế. Từ năm 2030 - 2045 sẽ đưa khu công nghiệp dược hoạt động theo nguyên tắc đảm bảo tính kết nối - liên kết mở giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghệ. Sở Y tế cho rằng cần tạo cơ chế chính sách quy tụ nhà đầu tư trong nước, nước ngoài để sản xuất các thuốc phát minh hoặc chuyển giao công nghệ, thuốc chuyên khoa đặc trị, thuốc generic có dạng bào chế công nghệ cao;Vắc xin, sinh phẩm, các trang thiết bị xét nghiệm, sản phẩm y sinh kỹ thuật cao phục vụ được nhu cầu trong chẩn đoán và điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh trong nước, đồng thời tiến tới xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Công nghiệp dược Việt đang ở đâu?Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về dược liệu, nền y học cổ truyền, sản xuất vắc xin và phát triển hóa dược… Nhưng nghịch lý là để sản xuất, chúng ta lại đang phải nhập khẩu nguyên liệu trên 90%. Và đây cũng là lý do các doanh nghiệp ví von "ngành công nghiệp dược Việt Nam đang đứng trên chân người khác".Theo phân loại của WHO, ngành công nghiệp dược của Việt Nam mới ở gần cấp độ 3, tức có công nghiệp dược nội địa, có sản xuất thuốc generic thuốc gốc và xuất khẩu một số dược phẩm. Còn theo phân loại 5 mức phát triển của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc UNIDO, công nghiệp dược Việt Nam mới chỉ ở mức 3, nghĩa là "công nghiệp dược nội địa sản xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập". Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Hướng đi cho dược phẩm xuất khẩu? [06/08/2009 235230] Cùng với tốc độ phát triển kinh tế của cả nước, ngành dược Việt nam đã không ngừng phát triển, đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động và xây dựng thương hiệu trên thị trường. Lượng thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùngnăm 2008 và dành cho xuất khẩu sang các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù doanh thu xuất khẩu thuốc của doanh nghiệp dược nước ta còn nhỏ nhưng đây là nền tảng để thúc đẩy phát triển ngành dược và tiến tới xây dựng thương hiệu dược phẩm của Việt Nam. Tình hình sản xuất và xuất khẩu dược phẩm Theo Hiệp hội sản xuất, kinh doanh Dược Việt Nam. trong vài năm gần đây, ngành công nghiệp Dược nước ta có sự phát triển khá mạnh. Điều này được thể hiện ở giá trị sản xuất thuốc trong nước liên tục tăng. Năm 2006, giá trị thuốc sản xuất trong nước đạt 475,4 triệu USD và năm 2007 tăng lên 600,6 triệu USD và năm 2008 đạt 693,7 triệu USD. Theo Cục quản lý Dược Việt Nam, trong số hoạt chất có trong các thuốc đã đăng ký, số hoạt chất sản xuất nội địa tăng từ 380 năm 1999 lên 773 hoạt chất năm 2006. Đến hết tháng 6/2008, có số đăng ký tân dược là chiếm 78,6%. Hiện nay, sản lượng thuốc sản xuất trong nước đã đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu thụ thuốc nội điạ và đang hướng ra xuất khẩu. Xuất khẩu dược phẩm trong những năm gần đây cũng có nhiều khởi sắc, tổng giá trị xuất khẩu năm 2007 đạt 22,1 triệu USD, tăng 22,1% so với năm 2006 và năm 2008 đạt khoảng 39 triệu USD, tăng 76,4% so với năm 2007. Tuy nhiên, so với giá trị sản xuất thuốc trong nước, con số này còn quá khiên tốn. Xuất khẩu dược phẩm năm 2008 chỉ mới đạt tỷ trọng 5,6% so với tổng giá trị dược phẩm sản xuất trong nước. Thị trường xuất khẩu dược phẩm chủ yếu của Việt Nam trong những năm gần đây là châu Phi, Nga, một số nước láng giềng. Công ty Dược Hậu Giang cho biết, mấy năm trở lại đây công ty này đã xuất khẩu được một số đơn hàng sang Nga, Campuchia, tuy nhiên số lượng xuất khẩu còn rất nhỏ. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công ty là Kim Tiền Thảo, thuốc kháng sinh, một số loại vitamin tổng hợp và một số mặt hàng khác theo yêu cầu của đối tác. Các đối tác của công ty chủ yếu là các Việt kiều, mua hàng của công ty rồi bán các nước sở tại. Tìm hướng đi cho xuất khẩu dược phẩm Mặc dù đã có sự phát triển nhưng ngành dược của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hàm lượng kỹ thuật thấp, thiếu định hướng và chưa chủ động được thuốc sản xuất trong nước. Việt Nam hiện đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất dược phẩm, có tới 90% nguyên liệu phải nhập khẩu. Phần lơn doanh nghiệp tập trung sản xuất những loại thuốc thông thường, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư sản xuất các loạ thuốc có dạng bào chế đặc biệt và thuốc chuyên khoa đặc trị. Thêm vào đó, mặc dù có tiềm năng về nguồn dược liệu song ngành dược nước ta chưa có sự kết hợp quy hoạch vùng trồng và khai thác dược liệu với sản xuất thuóc. Chính những điều này đã hạn chế sự phát triển của ngành dược Việt Nam nói chung và xuất khẩu dược phẩm nói riêng. Vấn đề đặt ra cho ngành dược hiện nay là cần phải tìm ra giải pháp đẩy mạnh phát triển công nghiệp dược, tìm hướng đi cho xuất khẩu, nâng cao tỷ trọng xuất khẩu dược phẩm trong thời gian tới. Bộ Y tế hiện đang tiến hành quy hoạch sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trong nước qua việc khảo sát, đánh giá thực tế năng lực cụ thể của từng nhà máy, xây dựng chương trình trọng điểm quốc gia về khoa học công nghệ dược, thành lập viện nghiên cứu dược để thực hiện công tác nghiên cứu, phát triển các quy trình công nghệ để phục vụ công nghiệp bào chế thuốc. Bên cạnh đó, Bộ Y tế và Bộ công thương cũng đã thống nhất, cần sớm hoành thành quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hoá dược và công nghiệp dược. Trước mắt, Việt Nam cần tập trung xây dựng nhà máy sản xuất dược phẩm đạt tiêu chuẩn "Thực hành tốt sản xuất vắc xin, sinh phẩm y tế" - GMP - WHO. Thuốc là sản phẩm liên quan trực tiếp đến sức khoẻ con người, do đó khi xuất khẩu, các doanh nghiệp dược Việt Nam sẽ vấp phải hàng rào kỹ thuật nghiêm ngặt. GMP là hàng rào đầu tiên và quan trọng nhất đòi hỏi các doanh nghiệp phải vượt qua nếu muốn xuất khẩu dược phẩm. Theo Chiến lượng phát triển Công nghiệp Dược Việt Nam, đến hết năm 2010, tất cả các doanh nghiệp có chức năng sản xuất dược phẩm phải đạt tiêu chuẩn GMP WHO. Theo Cục quản lý Dược - Bộ Y tế, hiện nay có khoảng hơn 100 doanh nghiệp kinh doanh dược của Việt Nam đạt tiêu chuẩm GMP. Dược phẩm là hàng hoá rất nhạy cảm, ngay cả việc quản lý dược phẩm trong nước hiện nay cũng đang gặp khó khăn, do đó để hướng ra xuất khẩu, các doanh nghiệp cần sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước trong việc tìm kiếm thông tin về ngành hàng và thị trường, những hoạt động xúc tiến thương mại, khảo sát các thị trường tiềm năng. Hy vọng trong thời gian tới, với sự hỗ trợ của Nhà nước cùng sự năng động của các doanh nghiệp, ngành dược Việt Nam có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường quốc tế, đóng góp vào nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Thực trạng trên được Hồ Bá Do - Phó chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam đồng thời là Phó Viện trưởng Viện Thực phẩm chức năng Việt Nam, nêu lên tại Hội thảo “Gian lận thương mại - Hệ lụy và giải pháp” do Công ty Truyền thông Quốc tế Hàn - Việt tổ chức tại sáng nay Nhập rác dược liệu từ lá, sâm… Theo Hồ Bá Do, do điều kiện tự nhiên, Việt Nam có nguồn dược liệu cực kỳ dồi dào. loài thực vật, trong đó có loài cây thuốc, 408 loài động vật và 75 loài khoáng vật có tác dụng làm thuốc. Hiện tại, trữ lượng khai thác 70 loài có tiềm năng với sản lượng tấn mỗi năm đã làm cạn kiệt nguồn dược liệu và nguy cơ tuyệt chủng vùng dược liệu ngày càng tăng. Ví dụ, lá dành cho con dê ăn là dâm dương hoắc, là loại thuốc quý mọc vùng cao Việt Nam. Năm 2007, các nhà khoa học Mỹ nghiên cứu và công bố trong lá này có chất sinh và dưỡng tinh trùng giúp điều trị trong hiếm muộn… Thế nhưng, có một thực tế đáng buồn là lá dâm dương hoắc này cũng như các dược liệu quý khác được nhiều thương lái Trung Quốc vào các thôn bản thu mua sạch đã mấy chục năm nay, đưa về Trung Quốc hút hết hoạt chất bằng hệ thống chiết xuất lấy tinh chất bằng công nghệ cao áp. Sau đó, bã dược liệu với hình thức, màu, mùi vị nhưng không còn chất từ Trung Quốc được xuất trở lại Việt Nam với giá rẻ và được tiêu thụ mạnh. Lấy ví dụ sâm ngọc linh, loại sâm hàng đầu thế giới được phát hiện tại Việt Nam theo các chuyên gia, cây sâm ngọc linh phải được trồng 6 năm mới có thu hoạch được. Hiện sâm bán tràn lan trên thị trường toàn là sâm giả từ Trung Quốc, thậm chí ngay thủ phủ trồng sâm ngọc linh của Việt Nam cũng tràn lan sâm giả. Tương tự với lan gấm 5 triệu một cân tươi, 10 triệu cân khô, nay không tìm ra để bán. Lá dâm dương hoắc khô đang được bán tràn lan ở thị trường Việt Nam trong chợ Sapa, đường Hải Thượng Lãn Ông giá đồng/kg chỉ là lá khô. Ông nói “Làm gì có lá dược liệu này giá rẻ mạt vậy? Tiền triệu không mua được để bào chế thuốc, sao có vài chục ngàn vậy mà bán tràn lan. Vấn đề này ai trong nghề cũng phải biết nhưng mắt nhắm mắt mở để làm ăn kinh doanh”. Nhiều ý kiến cho rằng, xử phạt với hành vi làm hàng giả vẫn còn thiếu tính răn đe Xử phạt còn yếu tính răn đe Ngoài nguồn dược liệu, thông tin tại hội thảo các chuyên gia cũng rằng, thị trường thực phẩm chức năng Việt Nam đáng báo động, hàng giả, hàng đểu tràn lan. Trong khi tốc độ phát triển các cơ sở thực phẩm chức năng tăng nhanh như vũ bão, song cơ sở làm được hàng chất lượng đủ chuẩn để xuất khẩu vô cùng hiếm hoi. Số liệu từ Bộ Y tế được cập nhật tại hội thảo cho thấy, năm 2000, Việt Nam chỉ có 13 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng với 63 sản phẩm. Tuy nhiên, đến năm 2016 đã có đến cơ sở sản xuất, với sản phẩm. Chưa cập nhật con số chính xác, nhưng theo Viện Thực phẩm chức năng Việt Nam, con số trên đã tăng hơn nhiều. Điểm yếu của thực phẩm chức năng Việt Nam là hiện chưa có quy chuẩn, tiêu chuẩn nào cả. Mạnh ai nấy làm, nấy bán. Ngay với các thị trường lân cận, chúng ta cũng chưa thể cạnh tranh nổi khi một sản phẩm thực phẩm chức năng của Thái Lan cũng có đẩy đủ 5 tiêu chuẩn trong sản xuất. Việt Nam với yêu cầu đạt chứng nhận thực hành sản xuất tốt GMP đến nay cũng chỉ có hơn chục cơ sở đạt chuẩn này. Theo quy định, đến ngày tới đây, quy định các cơ sở sản xuất thực phẩm chức năng phải áp dụng GMP, chắc chắn tình trạng sản xuất chui thực phẩm chức năng sẽ phổ biến. Bởi đầu tư đạt chứng nhận GMP tốn vài chục tỉ đồng, không cơ cơ sở nào đủ khả năng để làm, ngoại trừ các doanh nghiệp lớn. Liên quan đến vấn nạn sản xuất hàng giả nói chung và dược phẩm giả nói riêng, nhiều kiến nghị đưa ra tại hội thảo cho rằng, các hình thức phạt với hành vi làm giả phải được tăng mạnh hơn, có tính răn đe hơn, chứ không thể phạt cho qua chuyện. Lấy dẫn chứng vụ tiêm thuốc an thần cho gần con heo bị phát hiện tại điểm giết mổ nhưng chỉ bị phạt 20 triệu đồng, trong khi tại Đài Loan, một trang trại trồng chè, nếu bị phát hiện một cây chè có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định, mức phạt có thể khiến chủ trang trại đó sạt nghiệp. Ông Do nói, hình thức xử phạt hành vi vi phạm làm dối, giả tại các nước rất cao, trong khi Việt Nam phạt chỉ phạt hành chính. Luật sư Trương Thị Hòa, Đoàn Luật sư dẫn một số điều luật áp dụng hành vi gian lận trong thương mại và cho rằng, nếu được áp dụng đúng và xử lý nghiêm đúng luật vẫn có hiệu quả hơn tình trạng hiện nay. “Việt Nam còn có những quy định như vào bắt tận tay cơ sở đó đang làm hàng giả nhưng vì hàng hóa đó chưa được tiêu thụ trên thị trường, nên việc xử lý cũng sẽ nhẹ hơn là hàng hóa đã lưu thông. Với các nước lại khác, đã làm giả khi bị phát hiện thì hình thức xử phạt như nhau”, luật sư Trương Thị Hòa chia sẻ.
xuất khẩu dược liệu